🌸💠🌸💠🌸💠🌸💠🌸💠🌸💠🌸💠🌸
GIỚI THIÊU SÁCH THÁNG 11
Hoi Dap cac quyen co ban cua dan toc thieu so theo quy dinh phap luat Viet Nampdf (1)

- 0 / 0
Nguồn:
Người gửi: Trần Thị Huyền
Ngày gửi: 22h:03' 20-07-2025
Dung lượng: 1.6 MB
Số lượt tải: 0
Người gửi: Trần Thị Huyền
Ngày gửi: 22h:03' 20-07-2025
Dung lượng: 1.6 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
HỘI ĐỒNG CHỈ ĐẠO XUẤT BẢN
Chủ tịch Hội đồng
Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương
LÊ MẠNH HÙNG
Phó Chủ tịch Hội đồng
Q. Giám đốc - Tổng Biên tập
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật
PHẠM CHÍ THÀNH
Thành viên
TRẦN QUỐC DÂN
NGUYỄN ĐỨC TÀI
NGUYỄN NGUYÊN
NGUYỄN HOÀI ANH
Nhóm biên soạn:
HOÀNG XUÂN LƯƠNG (Chủ biên)
NGUYỄN HÀ ANH
VŨ LÂM QUÂN
Hiệu đính:
ĐỖ XUÂN LÂN
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Quyền của dân tộc thiểu số là một trong những
quyền cơ bản của con người, được pháp luật quốc tế
ghi nhận và nội luật hóa trong pháp luật quốc gia
theo điều kiện đặc thù của đất nước. Ở Việt Nam,
quyền cơ bản của dân tộc thiểu số luôn được Đảng và
Nhà nước ta quán triệt và thực hiện nhất quán, đồng
thời được bổ sung, hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu
phát triển của đất nước. Với 54 dân tộc cùng chung
sống, trong đó có 53 dân tộc thiểu số, Điều 5 Hiến
pháp năm 2013 quy định: Nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân
tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam. Các dân
tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng
phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ
dân tộc... Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ
viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập
quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình... và
tất cả các quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân (trong
đó có quyền của dân tộc thiểu số) cũng được quy định
tại Chương II của Hiến pháp.
Cụ thể hóa đường lối, chủ trương, chính sách của
Đảng, pháp luật của Nhà nước, bảo đảm các dân tộc
5
bình đẳng, tôn trọng, đoàn kết, bảo đảm các quyền cơ
bản của đồng bào dân tộc thiểu số trong các lĩnh vực
dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa, trong
những năm qua, quyền của người dân tộc thiểu số ở
nước ta ngày càng được quy định đầy đủ trong nhiều
chính sách phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số;
trong các bộ luật, luật và các văn bản dưới luật.
Nhằm giúp bạn đọc, trước hết là bạn đọc tại các cơ
sở xã, phường, thị trấn nắm được những nội dung cơ
bản về quyền của dân tộc thiểu số trong các văn kiện
pháp lý quốc tế, đặc biệt là trong pháp luật Việt Nam,
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật phối hợp với
Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc xuất bản cuốn sách
Hỏi - đáp các quyền cơ bản của dân tộc thiểu
số theo quy định pháp luật Việt Nam do tác giả
Hoàng Xuân Lương làm chủ biên. Cuốn sách được
biên soạn với những câu hỏi và trả lời theo hai phần:
Phần I. Khái quát chung về dân tộc thiểu số và
quyền của người dân tộc thiểu số.
Phần II. Các quyền cơ bản của người dân tộc
thiểu số theo quy định pháp luật Việt Nam.
Xin giới thiệu cuốn sách với bạn đọc.
Tháng 10 năm 2018
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT
6
LỜI NÓI ĐẦU
Việt Nam là một quốc gia có 54 dân tộc. Trong
quá trình xây dựng và phát triển đất nước, quan
điểm chiến lược của Đảng và Nhà nước ta về chính
sách dân tộc là nhất quán theo nguyên tắc “Các
dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp
nhau cùng phát triển”. Điều này, một mặt thể hiện
trách nhiệm của Đảng và Nhà nước đối với đồng
bào các dân tộc thiểu số; mặt khác, cho thấy việc
giải quyết vấn đề dân tộc là đòi hỏi cấp thiết cần có
những quyết sách kịp thời, phù hợp trong mỗi giai
đoạn lịch sử cụ thể nhằm đáp ứng yêu cầu phát
triển đất nước. Việc luật hóa quyền của người dân
tộc thiểu số cũng trên quan điểm chiến lược này.
Điều 16 Hiến pháp năm 2013 quy định: Mọi
người đều bình đẳng trước pháp luật. Không ai bị
phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự,
kinh tế, văn hóa, xã hội. Bình đẳng về quyền có
nghĩa là mọi thành viên trong cộng đồng đều có cơ
hội được hưởng các quyền như nhau trong những
điều kiện, hoàn cảnh, năng lực sẵn có như nhau.
Người dân tộc thiểu số ở nước ta là công dân nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có quyền
7
hưởng những quyền con người, quyền công dân
được pháp luật Việt Nam ghi nhận và bảo vệ. Tuy
nhiên, do có những đặc thù về địa bàn cư trú và
điều kiện phát triển, nên để bảo đảm và thúc đẩy
sự bình đẳng thực sự trong thực hiện các quyền
con người và quyền công dân đối với dân tộc thiểu
số, pháp luật nước ta còn có những quy định mang
tính riêng có đối với người dân tộc thiểu số - đó
thực chất là quyền được phát triển bình đẳng.
Thừa nhận và bảo đảm các quyền của dân tộc
thiểu số đối với một quốc gia đa dân tộc như Việt
Nam là vấn đề mang tính chiến lược để phát triển
đất nước - nhất là trong giai đoạn hội nhập quốc tế
hiện nay, khi mà những thế lực thù địch luôn lợi
dụng cơ hội để phá hoại, gây mất ổn định an ninh
chính trị, trật tự an toàn xã hội của đất nước.
Nâng cao nhận thức của Nhân dân và cán bộ ở
cơ sở về các quyền cơ bản của đồng bào các dân tộc
thiểu số để từ đó phát huy nội lực của người dân
trong tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham
gia giám sát việc thực hiện những chương trình, kế
hoạch kinh tế - xã hội của địa phương, cũng là một
trong những nhiệm vụ quan trọng của công tác dân
tộc. Cuốn sách Hỏi - đáp các quyền cơ bản của dân
tộc thiểu số theo quy định pháp luật Việt Nam,
được biên soạn xuất phát từ những lý do như vậy.
Có thể nhận thấy, quyền con người, quyền công
dân nói chung và quyền của người dân tộc thiểu
số nói riêng ở nước ta được pháp luật quốc gia ghi
8
nhận và bảo đảm thực hiện bằng một hệ thống văn
bản pháp luật, bao gồm Hiến pháp, những bộ luật,
luật chuyên ngành cùng những văn bản mang tính
pháp quy có liên quan.
Trong cuốn sách này chúng tôi giới thiệu những
quyền mang tính riêng có của dân tộc thiểu số thuộc
các lĩnh vực: dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội, văn
hóa theo quy định của pháp luật Việt Nam.
Rất mong được độc giả đón nhận.
CÁC TÁC GIẢ
9
10
Phần I
KHÁI QUÁT CHUNG
VỀ DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ QUYỀN CỦA
NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ
I. QUAN ĐIỂM CỦA QUỐC TẾ VỀ DÂN TỘC
THIỂU SỐ VÀ QUYỀN CỦA NGƯỜI DÂN TỘC
THIỂU SỐ
Câu hỏi 1: Thuật ngữ “dân tộc thiểu số”
được hiểu thế nào? Dân tộc thiểu số được
nhận biết thông qua những đặc trưng gì?
Trả lời:
Thuật ngữ “dân tộc thiểu số” được sử dụng
chính thức trong các văn kiện pháp lý quốc tế và
pháp luật các quốc gia. Tùy theo lĩnh vực nghiên
cứu hay quan điểm của mỗi quốc gia, thuật ngữ
“dân tộc thiểu số” được hiểu khác nhau. Năm 1992,
Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thông qua thuật
ngữ “dân tộc thiểu số” dựa trên quan điểm của
GS. Francesco Capotorti (đặc phái viên của Liên
hợp quốc) đưa ra năm 1977: “Dân tộc thiểu số” là
thuật ngữ chỉ một nhóm người: (a) Cư trú trên lãnh
thổ của một quốc gia có chủ quyền mà họ là công
dân của quốc gia này; (b) Duy trì mối quan hệ lâu
11
dài với quốc gia mà họ đang sinh sống; (c) Thể hiện
bản sắc riêng về chủng tộc, văn hóa, tôn giáo và
ngôn ngữ của họ; (d) Đủ tư cách đại diện cho nhóm
dân tộc của họ, mặc dù số lượng ít hơn trong quốc
gia này hay tại một khu vực của quốc gia này; (e)
Có mối quan tâm đến vấn đề bảo tồn bản sắc chung
của họ, bao gồm cả yếu tố văn hóa, phong tục tập
quán, tôn giáo và ngôn ngữ của họ”1.
Có thể thấy “dân tộc thiểu số” là một thuật
ngữ được sử dụng phổ biến ở nhiều lĩnh vực, ngành
khoa học khác nhau trên thế giới, trong đó có khoa
học pháp lý. Trên thực tế, thuật ngữ “dân tộc thiểu
số” chỉ có ý nghĩa biểu thị tương quan về dân số
trong một quốc gia đa dân tộc.
Quan niệm “dân tộc thiểu số” và “dân tộc đa
số” cũng như nội hàm của chúng hiện nay còn có
những vấn đề chưa thống nhất và được vận dụng
xem xét rất linh hoạt trong từng điều kiện cụ thể,
tùy theo quan niệm và mối quan hệ so sánh về
dân số của mỗi quốc gia. Song, nội dung được quan
niệm như đã nói trên về cơ bản là tương đối thống
nhất không chỉ ở nước ta mà trong cả giới nghiên
cứu dân tộc học trên thế giới.
Dân tộc thiểu số thường được nhận biết thông
qua những đặc trưng chủ yếu sau đây:
- Có chung một phương thức sinh hoạt kinh tế.
1. Minority Rights: International Standards and Guidance
for Implementation (HR/PUB/10/3).
12
Đây là đặc trưng quan trọng nhất của dân tộc (tộc
người). Các mối quan hệ kinh tế là cơ sở liên kết các
bộ phận, các thành viên của dân tộc, tạo nên nền
tảng vững chắc của cộng đồng dân tộc.
- Có thể cư trú tập trung trên một vùng lãnh
thổ của một quốc gia, hoặc cư trú đan xen với nhiều
dân tộc anh em. Vận mệnh của mỗi tộc người là
một phần rất quan trọng gắn với việc xác lập và
bảo vệ lãnh thổ đất nước.
- Có ngôn ngữ riêng và có thể có chữ viết riêng
(bên cạnh ngôn ngữ, chữ viết chung của quốc gia),
có quyền sử dụng trong giao tiếp dân sự và trong
lĩnh vực pháp lý.
- Có nét tâm lý riêng (tâm lý tộc người), mang
bản sắc văn hóa tộc người.
Câu hỏi 2: Thế nào là quyền của người dân
tộc thiểu số? Quyền của người dân tộc thiểu
số có những tính chất cơ bản gì?
Trả lời:
Dựa trên quan điểm về thuật ngữ “dân tộc thiểu
số” như đã đề cập ở phần trên, có thể hiểu, “người
dân tộc thiểu số” trước hết thuộc nhóm người thiểu
số, là cá thể trong một nhóm/một tộc người dân tộc
thiểu số. Họ cùng tộc người của mình sống trên
một quốc gia hoặc địa phương nhất định, có những
đặc điểm đồng nhất về chủng tộc, tín ngưỡng, ngôn
ngữ và truyền thống, có sự giúp đỡ lẫn nhau và có
quan điểm thống nhất trong việc bảo lưu những
13
yếu tố truyền thống, duy trì tôn giáo, tín ngưỡng và
hướng dẫn, giáo dục trẻ em trong cộng đồng theo
tinh thần và truyền thống của chủng tộc họ1. Theo
các công ước quốc tế, người dân tộc thiểu số được
hưởng những quyền của con người và những quyền
của nhóm người thiểu số. Trong mỗi quốc gia, họ
có quyền có quốc tịch và có quyền được xác định
dân tộc theo quy định pháp luật của quốc gia mà
họ sống.
Quyền của người dân tộc thiểu số được quốc
tế chính thức ghi nhận trong Tuyên ngôn quốc tế
về nhân quyền của Liên hợp quốc (UDHR) năm
1948: Mọi người sinh ra đều được hưởng tất cả các
quyền và tự do, không có bất kỳ sự phân biệt đối
xử nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ,
tôn giáo, nguồn gốc dân tộc hoặc xã hội (Điều 2);
và Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính
trị (ICCPR) năm 1966: Tại những nước có nhiều
nhóm dân tộc thiểu số, tôn giáo và ngôn ngữ cùng
chung sống, thì những cá nhân thuộc các dân tộc,
tôn giáo, ngôn ngữ và các nhóm thiểu số đó, cùng
với những thành viên khác của cộng đồng mình,
không thể bị tước bỏ quyền được thụ hưởng nền
1. Xem thêm: Lê Xuân Trình (Khoa Luật - Đại học Quốc
gia Hà Nội): Quyền của người dân tộc thiểu số theo quy định
của luật pháp quốc tế và Việt Nam (Luận văn Thạc sĩ Luật
học, Hà Nội, 2015), http://repository.law.vnu.edu.vn/.
14
văn hóa riêng, quyền được thể hiện và thực hành
tôn giáo riêng hoặc quyền được sử dụng tiếng nói
riêng của họ (Điều 27). Như vậy, dưới góc độ pháp
lý, “quyền của người dân tộc thiểu số” trước hết là
những quyền cơ bản của con người được ghi nhận
và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa
thuận pháp lý quốc tế.
Thuật ngữ “quyền con người” hay “nhân quyền”
là một phạm trù đa diện, phức tạp, với nhiều góc
tiếp cận, tương ứng là nhiều định nghĩa, cách hiểu
khác nhau. Theo Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc,
quyền con người là những bảo đảm pháp lý phổ
quát có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm
chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc làm tổn
hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do
cơ bản của con người1.
Từ góc độ lý luận và pháp luật, quyền con người
là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có của con
người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc
gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế2. Đây là những
chuẩn mực được cộng đồng quốc tế thừa nhận và
tuân thủ, chứa đựng những giá trị nhân văn cao
1. OHCHR, Freequently Asked Questions on a Human
Rights-based Approach to Development Cooperation, New
York and Geneva, 2006, tr.1.
2. Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội: Giáo trình Lý
luận và pháp luật về quyền con người, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.38.
15
quý của toàn nhân loại, kết tinh từ tinh hoa văn
hóa của tất cả các dân tộc trên thế giới; là tiếng nói
chung, mục tiêu chung và phương tiện chung của
toàn nhân loại để bảo vệ và thúc đẩy nhân phẩm và
hạnh phúc của mọi người. Quyền con người là vốn
có cho tất cả các thành viên trong gia đình nhân
loại. Do vậy, quyền con người là quyền phổ quát và
không thể tách rời của cá nhân con người; không thể
tước đoạt các quyền này khỏi con người. Chỉ có thể
hạn chế việc thực thi một số quyền con người trong
những tình huống nhất định.
Như vậy, tiếp cận ở góc độ nào và ở cấp độ nào
thì quyền con người cũng được xác định như là
những chuẩn mực được cộng đồng quốc tế và quốc
gia thừa nhận, tuân thủ.
Đối với quyền của dân tộc thiểu số, chủ thể
hưởng thụ quyền là các dân tộc thiểu số trong một
quốc gia. Mỗi quốc gia có trách nhiệm bảo đảm cho
dân tộc thiểu số trong quốc gia của mình được hưởng
thụ quyền dựa trên điều kiện đặc thù của đất nước.
Người dân tộc thiểu số có đầy đủ các quyền về dân
sự, chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa như mọi người
và mọi công dân trong quốc gia của họ, hoàn toàn
bình đẳng và không có sự phân biệt đối xử.
Thuộc quyền con người, quyền của người dân
tộc thiểu số có các tính chất cơ bản, như: tính phổ
biến, tính không thể tước bỏ, tính không thể phân
chia, tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau.
16
Trong các văn kiện quốc tế về nhân quyền nói
chung ở cấp độ toàn cầu và khu vực, có nhiều văn
kiện ghi nhận một cách trực tiếp hoặc gián tiếp
quyền của người dân tộc thiểu số. Ở cấp độ toàn
cầu, trong khuôn khổ Liên hợp quốc, phải kể đến
các văn kiện:
- Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền của Liên
hợp quốc năm 1948.
- Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức
phân biệt chủng tộc năm 1965.
- Công ước quốc tế về các quyền dân sự và
chính trị năm 1966.
- Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội
và văn hóa năm 1966.
- Tuyên bố về quyền của những người thuộc các
nhóm thiểu số về dân tộc, chủng tộc, tôn giáo và
ngôn ngữ năm 1992.
Câu hỏi 3: Các vấn đề có tính nguyên tắc
trong việc ghi nhận và bảo đảm quyền của
người dân tộc thiểu số được quy định thế nào?
Trả lời:
Vấn đề có tính nguyên tắc trong việc ghi nhận
và bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số, đó là:
- Bình đẳng, không phân biệt đối xử: Có thể
thấy rằng tất cả các văn kiện quốc tế quan trọng về
nhân quyền, đặc biệt là tại các văn kiện về quyền
của nhóm người dễ bị tổn thương và người dân tộc
17
thiểu số đều có quy định trực tiếp về nguyên tắc
bình đẳng, không phân biệt đối xử như là cơ sở tiên
quyết bảo đảm quyền con người nói chung, quyền
của người dân tộc thiểu số nói riêng được ghi nhận
và bảo đảm thực hiện trên thực tế.
- Vai trò tích cực của các quốc gia: Có thể thấy
rằng, trong việc thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền,
đặc biệt là đối với người dân tộc thiểu số, bên cạnh
cơ chế quốc tế và khu vực, các quốc gia có vai trò
quyết định. Tuy lựa chọn các mô hình tương đối
khác nhau, nhưng các quốc gia thường có cơ quan
chuyên trách bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền.
Câu hỏi 4: Trong các điều ước quốc tế,
những quyền cơ bản nào của người dân tộc
thiểu số được ghi nhận và bảo vệ?
Trả lời:
Phù hợp với tính phổ quát của quyền con
người, trong các văn kiện quan trọng nhất của
Liên hợp quốc, người dân tộc thiểu số trước hết
được hưởng tất cả các quyền con người được cộng
đồng quốc tế ghi nhận trên cơ sở bình đẳng, không
có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào. Họ được bảo
đảm tất cả các quyền về dân sự, chính trị, kinh tế,
xã hội, văn hóa.
Xuất phát từ những đặc điểm vốn có cũng như
thực trạng trong việc bảo đảm quyền, luật pháp
18
quốc tế nhấn mạnh những nhóm quyền cơ bản của
người dân tộc thiểu số cần được thúc đẩy và bảo vệ
trong phạm vi toàn cầu. Đây là những nhóm quyền
cơ bản liên quan chặt chẽ đến người dân tộc thiểu
số, là tiền đề quan trọng để bảo đảm các quyền
khác của họ, đó là:
- Quyền có quốc tịch, được xác định dân tộc:
Việc thúc đẩy và bảo vệ quyền của người dân tộc
thiểu số luôn gắn liền với một quốc gia có chủ
quyền và vai trò quan trọng thuộc về các quốc gia.
Do vậy, trước hết họ cần có quốc tịch và được công
nhận là dân tộc thiểu số. Quyền có quốc tịch, được
xác định dân tộc là tiền đề quan trọng để bảo đảm
mọi quyền khác của người dân tộc thiểu số.
- Quyền tham gia quản lý đất nước: Quyền
tham gia quản lý đất nước được ghi nhận lần đầu
trong Điều 21 Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền
năm 1948 của Liên hợp quốc. Theo đó, mọi người
đều có quyền tham gia quản lý đất nước mình, một
cách trực tiếp hoặc thông qua các đại diện mà họ
được tự do lựa chọn... (khoản 1).
Rõ ràng, thực hiện việc bầu cử, ứng cử, tham
gia quản lý, giám sát hoạt động của cơ quan nhà
nước là cách trực tiếp có hiệu quả nhất để người
dân tộc thiểu số thực hiện các quyền chính trị của
mình qua thiết chế các cơ quan nhà nước. Bình
đẳng về chính trị là cơ sở và là điều kiện bảo đảm
19
cơ hội bình đẳng phát triển mọi mặt đời sống xã hội
cho người dân tộc thiểu số.
- Quyền đối với văn hóa, phong tục tập quán,
ngôn ngữ: Có thể thấy rằng đây là nhóm quyền đặc
trưng của người dân tộc thiểu số cần được bảo vệ,
nhóm quyền này được ghi nhận một cách chuyên
biệt trực tiếp tại Điều 27 Công ước quốc tế về quyền
dân sự và chính trị năm 1966 và tại Tuyên bố về
quyền của những người thuộc các nhóm thiểu số về
dân tộc, chủng tộc, tôn giáo và ngôn ngữ năm 1992
của Liên hợp quốc (Điều 1, Điều 2, Điều 4).
Văn hóa, phong tục tập quán, ngôn ngữ là linh
hồn của các dân tộc thiểu số, đây cũng là những
đặc trưng quan trọng khi xác định dân tộc. Chính
vì vậy, quyền của người dân tộc thiểu số đối với văn
hóa, phong tục tập quán, ngôn ngữ của họ cần được
thúc đẩy và bảo vệ ở cấp độ toàn cầu.
- Quyền được giáo dục: Tuyên bố về quyền của
những người thuộc các nhóm thiểu số về dân tộc,
chủng tộc, tôn giáo và ngôn ngữ năm 1992 khẳng
định, quyền được giáo dục là quyền đặc biệt quan
trọng của người thiểu số đòi hỏi các quốc gia phải
quan tâm (Điều 4).
Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân
biệt chủng tộc năm 1965 khẳng định việc đảm bảo
quyền được giáo dục đào tạo (điểm e khoản 5 Điều 5)
như một biện pháp quan trọng trong chính sách
20
của quốc gia thành viên cam kết sẽ cấm và xóa
bỏ sự phân biệt chủng tộc dưới mọi hình thức và
bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật của tất
cả mọi người, không phân biệt chủng tộc, màu da,
nguồn gốc quốc gia hay sắc tộc.
- Quyền được chăm sóc sức khỏe: Nội dung
quyền được chăm sóc sức khỏe được nêu tại Điều 25
Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền năm 1948 của
Liên hợp quốc. Nội dung này, sau đó được cụ thể
hóa ở nhiều văn kiện quốc tế khác, như: Công ước
quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa
năm 1966 (Điều 10, Điều12); Công ước quốc tế
về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống
lại phụ nữ năm 1979 (Điều 11, Điều 12, Điều 14);
Tuyên bố Viên và Chương trình hành động thông
qua tại Hội nghị thế giới về quyền con người lần
thứ hai năm 1993; Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi
hình thức phân biệt chủng tộc năm 1965 (điểm d
khoản 5 Điều 5).
Quyền được chăm sóc sức khỏe, được tiếp cận
các dịch vụ y tế là quyền cơ bản của tất cả mọi
người trên cơ sở bình đẳng, không phân biệt đối xử.
Mọi người có quyền được hưởng tiêu chuẩn chăm
sóc sức khỏe cao nhất có thể được. Đối với người
dân tộc thiểu số và nhóm người “dễ bị tổn thương”
và “dễ bị bỏ quên”, như: phụ nữ, trẻ em, người tàn
tật... khi mà điều kiện được tiếp cận các dịch vụ y tế
còn rất hạn chế thì quyền được chăm sóc sức khỏe
21
có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là quyền không thể
thiếu để thực hiện các quyền khác.
- Quyền được hưởng an sinh xã hội: Cũng như
quyền được giáo dục và quyền được chăm sóc sức
khỏe, quyền được hưởng an sinh xã hội của người dân
tộc thiểu số được ghi nhận tại Công ước quốc tế về
xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc năm 1965
(điểm d khoản 5 Điều 5) như một biện pháp quan
trọng trong chính sách của quốc gia thành viên
cam kết sẽ cấm và xóa bỏ sự phân biệt chủng tộc
dưới mọi hình thức và bảo đảm quyền bình đẳng
trước pháp luật của tất cả mọi người, không phân
biệt chủng tộc, màu da, nguồn gốc quốc gia hay
sắc tộc.
- Quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng hoặc tôn
giáo: Quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng hoặc tôn
giáo của người dân tộc thiểu số được ghi nhận tại
Điều 27 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và
chính trị năm 1966; Điều 2 Tuyên bố về quyền của
những người thuộc các nhóm thiểu số về dân tộc,
chủng tộc, tôn giáo và ngôn ngữ năm 1992; điểm g
khoản 4 Điều 5 Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi
hình thức phân biệt chủng tộc năm 1965.
- Quyền lập hội, tự do hội họp: Công ước quốc
tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc
năm 1965 ghi nhận: “quyền tự do hội họp và lập
hội một cách hòa bình” của người dân tộc thiểu số
22
tại điểm i khoản 4 Điều 5. Tiếp đó, Tuyên bố về
quyền của những người thuộc các nhóm thiểu số
về dân tộc, chủng tộc, tôn giáo và ngôn ngữ năm
1992 ghi: Những người thuộc các nhóm thiểu số
có quyền thành lập và duy trì các hội riêng của họ
(khoản 4 Điều 2).
- Quyền tự do đi lại, cư trú: Tại Điều 5 Công ước
quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng
tộc năm 1965, quy định người dân tộc thiểu số có
quyền tự do đi lại và cư trú trong phạm vi lãnh thổ
quốc gia (điểm a khoản 4); quyền được xuất cảnh
khỏi bất cứ quốc gia nào, kể cả nước mình, và quay
trở lại nước mình (điểm b khoản 4).
II. DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ QUYỀN
CỦA NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM
Câu hỏi 5: Dân tộc thiểu số ở Việt Nam có
những đặc điểm gì?
Trả lời:
Ở Việt Nam, thuật ngữ “dân tộc thiểu số” được
sử dụng trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật
cũng như trong công tác nghiên cứu, học tập và
trong hoạt động thực tiễn. Điều 4 Nghị định số
05/2011/NĐ-CP ngày 14-01-2011 của Chính phủ
về công tác dân tộc (gọi tắt là Nghị định số 05/2011/
NĐ-CP) giải thích thuật ngữ “dân tộc thiểu số” và
những thuật ngữ có liên quan, theo đó:
23
- Dân tộc thiểu số là những dân tộc có số dân ít
hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (khoản 2).
- Dân tộc thiểu số rất ít người là dân tộc có số
dân dưới 10.000 người (khoản 5).
- Dân tộc đa số là dân tộc có số dân chiếm trên
50% tổng dân số của cả nước, theo điều tra dân số
quốc gia (khoản 3).
- Vùng dân tộc thiểu số là địa bàn có đông các
dân tộc thiểu số cùng sinh sống ổn định thành cộng
đồng trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam (khoản 4).
Ở nước ta có 54 dân tộc cùng chung sống,
trong đó dân tộc Kinh là dân tộc đa số, 53 dân tộc
khác là dân tộc thiểu số. Các dân tộc thiểu số Việt
Nam sinh sống chủ yếu ở vùng miền núi (chiếm
3/4 diện tích đất tự nhiên của cả nước), đây là
những địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng về
chính trị, kinh tế, văn hóa, an ninh, quốc phòng,
môi trường sinh thái của đất nước. Có thể khái
quát đặc điểm chung của các dân tộc thiểu số ở
Việt Nam như sau:
Một là, các dân tộc thiểu số ở Việt Nam có quy
mô dân số và trình độ phát triển kinh tế, xã hội
không đồng đều, với sự chênh lệch khá lớn về điều
kiện sống, mức sống giữa các dân tộc và giữa các
vùng địa lý khác nhau.
24
Theo Điều tra về thực trạng kinh tế - xã hội 53
dân tộc thiểu số ở Việt Nam năm 2015 của Tổng cục
Thống kê, 53 dân tộc thiểu số ở nước ta có số dân
là 13,38 triệu người, chiếm 14,58% dân số cả nước.
Trong các dân tộc thiểu số, có những dân tộc có số
dân trên một triệu người, như: Tày, Thái, Mường,
Khmer, Nùng, Hmông; và có những dân tộc chỉ có
số dân dưới 1.000 người, như: Si La, Pu Péo, Rơ
Măm, Brâu, Ơ Đu, Ngái.
Kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn
chậm phát triển, tình trạng du canh, du cư, di
dân tự do vẫn diễn biến phức tạp. Kết cấu hạ tầng
(điện, đường, trường, trạm, công trình dịch vụ công
cộng) ở vùng sâu, vùng xa vẫn còn khó khăn; trình
độ phát triển kinh tế, xã hội không đồng đều, điều
kiện sống và mức sống giữa các dân tộc còn chênh
lệch. Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước Việt Nam
luôn quan tâm, thực hiện đường lối phát triển bình
đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ lẫn nhau giữa
các dân tộc.
Hai là, các dân tộc thiểu số ở Việt Nam cư trú
xen kẽ với nhau, địa bàn cư trú tập trung ở vùng
núi và biên giới - nơi có vị trí chiến lược quan trọng
về chính trị, kinh tế, an ninh, quốc phòng, môi
trường sinh thái của đất nước.
Trong quá trình lịch sử hình thành và phát
triển của dân tộc Việt Nam, các đợt di cư kéo dài
25
hàng thiên niên kỷ đã làm cho bản đồ cư trú của
các dân tộc thiểu số ở Việt Nam có sự tập trung ở
một số vùng nhưng mỗi dân tộc không cư trú thành
những khu vực riêng biệt mà xen kẽ với các dân
tộc khác trong phạm vi của tỉnh, huyện, xã, bản.
Trong mỗi vùng và mỗi địa bàn có những dân tộc là
người gốc địa phương từ lâu đời và có những người
thuộc các dân tộc khác chuyển đến cư trú với tính
xen kẽ ngày càng mạnh mẽ; không có tỉnh, huyện
nào chỉ có một dân tộc cư trú.
Hình thái cư trú xen kẽ giữa các dân tộc ở Việt
Nam là biểu hiện của sự cộng cư đoàn kết trên
quan điểm “nước Việt Nam là một, dân tộc Việt
Nam là một”. Điều này thúc đẩy sự hòa hợp, tin
cậy, gắn bó và giúp đỡ lẫn nhau, tăng cường hợp tác
và xích lại gần nhau hơn trong lao động sáng tạo;
nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, sinh hoạt
văn hóa; ngày càng tiến tới xóa bỏ cách biệt giữa
các dân tộc và các vùng dân cư. Đây là cơ sở giải
quyết mối quan hệ giữa các dân tộc, phòng ngừa
xảy ra mâu thuẫn, tranh chấp lợi ích, xung đột văn
hóa, giữ vững sự đoàn kết, thống nhất, không để
các thế lực thù địch lợi dụng phá hoại, gây mất ổn
định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội của
đất nước.
Các dân tộc thiểu số cư trú dọc biên giới phía
Bắc, Tây và Tây Nam - nơi có nhiều cửa ngõ thông
26
thương giữa nước ta với các nước trong khu vực và
thế giới. Đây cũng là những địa bàn có tiềm năng
lớn về khoáng sản (than, sắt, đồng, chì, kẽm, vàng,
bạc, đá quý), năng lượng thủy điện, đất rừng và môi
trường sinh thái của cả nước. Miền núi cũng là nơi
có nhiều dòng sông chảy về đồng bằng, hằng năm
cung cấp hàng tỷ mét khối nước cho các nhà máy
thủy điện và hàng tỷ mét khối phù sa cho vùng đồng
bằng của Việt Nam. Các vùng đất phì nhiêu ở miền
núi đã và đang phát triển việc trồng cây công nghiệp
dài ngày, như: cà phê, tiêu, chè, cao su... và chăn
nuôi gia súc; các nguồn thực phẩm sẵn có trong tự
nhiên và tre, gỗ được cung cấp cho cả nước.
Từ xa xưa đến nay, do khu vực đồng bào dân
tộc thiểu số sinh sống có địa hình hiểm trở, đồng
bào các dân tộc lại sẵn có lòng yêu nước nên vùng
dân tộc thiểu số luôn là căn cứ địa vững chắc của
các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm của
dân tộc ta. Trong công cuộc đổi mới đất nước, vùng
dân tộc thiểu số tiếp tục đóng vai trò đặc biệt quan
trọng trong thực hiện chiến lược phát triển kinh tế,
xã hội; đảm bảo an ninh, quốc phòng, bảo vệ vững
chắc chủ quyền lãnh thổ Việt Nam.
Ba là, nhiều dân tộc thiểu số có tín ngưỡng, tôn
giáo đan xen, đa dạng.
Trong bối cảnh trình độ phát triển kinh tế, xã
hội chưa cao, hầu hết các dân tộc thiểu số còn lưu
27
giữ và chịu sự chi phối khá rõ nét của nhiều loại
hình tín ngưỡng dân gian. Nhiều dân tộc thiểu
số có tín ngưỡng, tôn giáo đan xen, đa dạng. Đến
nay đa số đồng bào dân tộc thiểu số vẫn theo tín
ngưỡng truyền thống, thờ cúng tổ tiên, thờ đa thần,
các hình thái tôn giáo sơ khai. Trong đó nhiều tín
ngưỡng có tác dụng tích cực, thể hiện ước nguyện
tốt đẹp về cuộc sống con người, củng cố tình đoàn
kết, đồng tâm hiệp lực giữa các thành viên trong
cộng đồng. Nhưng một số tín ngưỡng dân gian cũng
là môi trường cho mê tín dị đoan và hủ tục tồn tại
và phát triển.
Bốn là, đồng bào các dân tộc thiểu số có ý thức
tộc người sâu sắc.
Nhìn chung, đồng bào các dân tộc thiểu số nước
ta có ý thức tộc người sâu sắc, thấy rõ vị trí, đặc
trưng của dân tộc mình và mối quan hệ chung với
các tộc người khác ở cả trong và ngoài biên giới
quốc gia. Từ đó đã tăng cường tính cố kết, hòa hợp
dân tộc, cũng như tinh thần yêu nước, lòng tự hào
của cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
Năm là, mỗi dân tộc đều có bản sắc văn hóa
riêng, độc đáo, góp phần làm nên sự phong phú, đa
dạng của nền văn hóa Việt Nam.
Các dân tộc thiểu số ở Việt Nam đều có bản
sắc văn hóa riêng, độc đáo, góp phần tạo nên sự
phong phú và đa dạng của nền văn hóa Việt Nam
28
thống nhất. Bên cạnh tiếng Việt là ngôn ngữ quốc
gia, được dùng làm phương tiện giao tiếp chung
cho tất cả các dân tộc thì hầu hết các dân tộc thiểu
số ở Việt Nam đều có ngôn ngữ riêng, thuộc 8 nhóm
ngôn ngữ khác nhau, gồm: Nhóm ngôn ngữ Môn Khmer, nhóm ngôn ngữ Việt - Mường, nhóm ngôn
ngữ Tày - Thái, nhóm ngôn ngữ Ka - đai, nhóm
ngôn ngữ Hmông - Dao, nhóm ngôn ngữ Malayô Pôlinêdi, nhóm ngôn ngữ Tạng - Miến, nhóm ngôn
ngữ Hán. Nhà nước Việt Nam tạo mọi điều kiện để
duy trì, phát triển ngôn ngữ, chữ viết, bản sắc văn
hóa của các dân tộc. Tổ chức xã hội truyền thống ở
mỗi dân tộc có những sắc thái riêng; mỗi thôn, bản,
buôn, phum, sóc thường là nơi cư trú theo dòng họ
huyết thống hoặc do hôn nhân hợp thành. Cách
thức sinh hoạt, phong tục tập quán ở mỗi dân tộc
cũng có sự khác nhau.
Sáu là, các dân tộc ở Việt Nam có truyền
thống đoàn kết, gắn bó lâu đời trong chinh phục
thiên nhiên, đấu tranh chống giặc ngoại xâm, bảo
vệ Tổ quốc.
Trong quá trình phát triển, mặc dù nguồn gốc
lịch sử, văn hóa, phong tục tập quán có những điểm
khác nhau, song các dân tộc ở Việt Nam đã luôn
đoàn kết, đồng cam cộng khổ, tương thân tương ái,
cùng nhau chinh phục thiên nhiên, kiên cường đấu
tranh để chiến thắng nhiều kẻ thù xâm lược. Ngày
29
nay, trên dọc tuyến biên giới từ Bắc - Trung - Nam,
đồng bào các dân tộc thiểu số tiếp tục đảm trách
vai trò là người giữ gìn biên cương, lãnh thổ của Tổ
quốc. Bằng lao động sáng tạo và ý chí đấu tranh
bền bỉ, kiên cường, đồng bào các dân tộc thiểu số đã
xây đắp nên một nền văn hóa kết tinh sức mạnh,
tinh hoa và in đậm dấu ấn bản sắc dân tộc, chứng
minh sức sống mãnh liệt và trường tồn của cộng
đồng dân tộc thiểu số ở Việt Nam.
Câu hỏi 6: Quan điểm của Đảng và Nhà nước
ta như thế nào về quyền của dân tộc thiểu số?
Trả lời:
Quán triệt những quan điểm cơ bản của Chủ
nghĩa Mác - Lênin về vấn đề dân tộc, Đảng ta và
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra những nguyên tắc
và định hướng chiến lược về chính sách dân tộc ở
Việt Nam, đó là đoàn kết, bình đẳng, tương trợ giữa
các dân tộc. Có thể khẳng định, chính sách dân tộc
của Đảng luôn được quán triệt và triển khai thực
hiện nhất quán trong mọi thời kỳ. Tuy nhiên, trong
mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể, chính sách dân tộc
của Đảng luôn được bổ sung, hoàn thiện đáp ứng
yêu cầu thực tiễn và sự phát triển của đất nước.
Từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV đến Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng, chính
sách dân tộc đã được Đảng ta đề ra trên cơ sở các
30
vấn đề cốt lõi, đó là: Vị trí của vấn đề dân tộc trong
toàn bộ sự nghiệp cách mạng; các nguyên tắc cơ
bản trong chí...
Chủ tịch Hội đồng
Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương
LÊ MẠNH HÙNG
Phó Chủ tịch Hội đồng
Q. Giám đốc - Tổng Biên tập
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật
PHẠM CHÍ THÀNH
Thành viên
TRẦN QUỐC DÂN
NGUYỄN ĐỨC TÀI
NGUYỄN NGUYÊN
NGUYỄN HOÀI ANH
Nhóm biên soạn:
HOÀNG XUÂN LƯƠNG (Chủ biên)
NGUYỄN HÀ ANH
VŨ LÂM QUÂN
Hiệu đính:
ĐỖ XUÂN LÂN
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Quyền của dân tộc thiểu số là một trong những
quyền cơ bản của con người, được pháp luật quốc tế
ghi nhận và nội luật hóa trong pháp luật quốc gia
theo điều kiện đặc thù của đất nước. Ở Việt Nam,
quyền cơ bản của dân tộc thiểu số luôn được Đảng và
Nhà nước ta quán triệt và thực hiện nhất quán, đồng
thời được bổ sung, hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu
phát triển của đất nước. Với 54 dân tộc cùng chung
sống, trong đó có 53 dân tộc thiểu số, Điều 5 Hiến
pháp năm 2013 quy định: Nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân
tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam. Các dân
tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng
phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ
dân tộc... Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ
viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập
quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình... và
tất cả các quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân (trong
đó có quyền của dân tộc thiểu số) cũng được quy định
tại Chương II của Hiến pháp.
Cụ thể hóa đường lối, chủ trương, chính sách của
Đảng, pháp luật của Nhà nước, bảo đảm các dân tộc
5
bình đẳng, tôn trọng, đoàn kết, bảo đảm các quyền cơ
bản của đồng bào dân tộc thiểu số trong các lĩnh vực
dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa, trong
những năm qua, quyền của người dân tộc thiểu số ở
nước ta ngày càng được quy định đầy đủ trong nhiều
chính sách phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số;
trong các bộ luật, luật và các văn bản dưới luật.
Nhằm giúp bạn đọc, trước hết là bạn đọc tại các cơ
sở xã, phường, thị trấn nắm được những nội dung cơ
bản về quyền của dân tộc thiểu số trong các văn kiện
pháp lý quốc tế, đặc biệt là trong pháp luật Việt Nam,
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật phối hợp với
Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc xuất bản cuốn sách
Hỏi - đáp các quyền cơ bản của dân tộc thiểu
số theo quy định pháp luật Việt Nam do tác giả
Hoàng Xuân Lương làm chủ biên. Cuốn sách được
biên soạn với những câu hỏi và trả lời theo hai phần:
Phần I. Khái quát chung về dân tộc thiểu số và
quyền của người dân tộc thiểu số.
Phần II. Các quyền cơ bản của người dân tộc
thiểu số theo quy định pháp luật Việt Nam.
Xin giới thiệu cuốn sách với bạn đọc.
Tháng 10 năm 2018
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT
6
LỜI NÓI ĐẦU
Việt Nam là một quốc gia có 54 dân tộc. Trong
quá trình xây dựng và phát triển đất nước, quan
điểm chiến lược của Đảng và Nhà nước ta về chính
sách dân tộc là nhất quán theo nguyên tắc “Các
dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp
nhau cùng phát triển”. Điều này, một mặt thể hiện
trách nhiệm của Đảng và Nhà nước đối với đồng
bào các dân tộc thiểu số; mặt khác, cho thấy việc
giải quyết vấn đề dân tộc là đòi hỏi cấp thiết cần có
những quyết sách kịp thời, phù hợp trong mỗi giai
đoạn lịch sử cụ thể nhằm đáp ứng yêu cầu phát
triển đất nước. Việc luật hóa quyền của người dân
tộc thiểu số cũng trên quan điểm chiến lược này.
Điều 16 Hiến pháp năm 2013 quy định: Mọi
người đều bình đẳng trước pháp luật. Không ai bị
phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự,
kinh tế, văn hóa, xã hội. Bình đẳng về quyền có
nghĩa là mọi thành viên trong cộng đồng đều có cơ
hội được hưởng các quyền như nhau trong những
điều kiện, hoàn cảnh, năng lực sẵn có như nhau.
Người dân tộc thiểu số ở nước ta là công dân nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có quyền
7
hưởng những quyền con người, quyền công dân
được pháp luật Việt Nam ghi nhận và bảo vệ. Tuy
nhiên, do có những đặc thù về địa bàn cư trú và
điều kiện phát triển, nên để bảo đảm và thúc đẩy
sự bình đẳng thực sự trong thực hiện các quyền
con người và quyền công dân đối với dân tộc thiểu
số, pháp luật nước ta còn có những quy định mang
tính riêng có đối với người dân tộc thiểu số - đó
thực chất là quyền được phát triển bình đẳng.
Thừa nhận và bảo đảm các quyền của dân tộc
thiểu số đối với một quốc gia đa dân tộc như Việt
Nam là vấn đề mang tính chiến lược để phát triển
đất nước - nhất là trong giai đoạn hội nhập quốc tế
hiện nay, khi mà những thế lực thù địch luôn lợi
dụng cơ hội để phá hoại, gây mất ổn định an ninh
chính trị, trật tự an toàn xã hội của đất nước.
Nâng cao nhận thức của Nhân dân và cán bộ ở
cơ sở về các quyền cơ bản của đồng bào các dân tộc
thiểu số để từ đó phát huy nội lực của người dân
trong tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham
gia giám sát việc thực hiện những chương trình, kế
hoạch kinh tế - xã hội của địa phương, cũng là một
trong những nhiệm vụ quan trọng của công tác dân
tộc. Cuốn sách Hỏi - đáp các quyền cơ bản của dân
tộc thiểu số theo quy định pháp luật Việt Nam,
được biên soạn xuất phát từ những lý do như vậy.
Có thể nhận thấy, quyền con người, quyền công
dân nói chung và quyền của người dân tộc thiểu
số nói riêng ở nước ta được pháp luật quốc gia ghi
8
nhận và bảo đảm thực hiện bằng một hệ thống văn
bản pháp luật, bao gồm Hiến pháp, những bộ luật,
luật chuyên ngành cùng những văn bản mang tính
pháp quy có liên quan.
Trong cuốn sách này chúng tôi giới thiệu những
quyền mang tính riêng có của dân tộc thiểu số thuộc
các lĩnh vực: dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội, văn
hóa theo quy định của pháp luật Việt Nam.
Rất mong được độc giả đón nhận.
CÁC TÁC GIẢ
9
10
Phần I
KHÁI QUÁT CHUNG
VỀ DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ QUYỀN CỦA
NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ
I. QUAN ĐIỂM CỦA QUỐC TẾ VỀ DÂN TỘC
THIỂU SỐ VÀ QUYỀN CỦA NGƯỜI DÂN TỘC
THIỂU SỐ
Câu hỏi 1: Thuật ngữ “dân tộc thiểu số”
được hiểu thế nào? Dân tộc thiểu số được
nhận biết thông qua những đặc trưng gì?
Trả lời:
Thuật ngữ “dân tộc thiểu số” được sử dụng
chính thức trong các văn kiện pháp lý quốc tế và
pháp luật các quốc gia. Tùy theo lĩnh vực nghiên
cứu hay quan điểm của mỗi quốc gia, thuật ngữ
“dân tộc thiểu số” được hiểu khác nhau. Năm 1992,
Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thông qua thuật
ngữ “dân tộc thiểu số” dựa trên quan điểm của
GS. Francesco Capotorti (đặc phái viên của Liên
hợp quốc) đưa ra năm 1977: “Dân tộc thiểu số” là
thuật ngữ chỉ một nhóm người: (a) Cư trú trên lãnh
thổ của một quốc gia có chủ quyền mà họ là công
dân của quốc gia này; (b) Duy trì mối quan hệ lâu
11
dài với quốc gia mà họ đang sinh sống; (c) Thể hiện
bản sắc riêng về chủng tộc, văn hóa, tôn giáo và
ngôn ngữ của họ; (d) Đủ tư cách đại diện cho nhóm
dân tộc của họ, mặc dù số lượng ít hơn trong quốc
gia này hay tại một khu vực của quốc gia này; (e)
Có mối quan tâm đến vấn đề bảo tồn bản sắc chung
của họ, bao gồm cả yếu tố văn hóa, phong tục tập
quán, tôn giáo và ngôn ngữ của họ”1.
Có thể thấy “dân tộc thiểu số” là một thuật
ngữ được sử dụng phổ biến ở nhiều lĩnh vực, ngành
khoa học khác nhau trên thế giới, trong đó có khoa
học pháp lý. Trên thực tế, thuật ngữ “dân tộc thiểu
số” chỉ có ý nghĩa biểu thị tương quan về dân số
trong một quốc gia đa dân tộc.
Quan niệm “dân tộc thiểu số” và “dân tộc đa
số” cũng như nội hàm của chúng hiện nay còn có
những vấn đề chưa thống nhất và được vận dụng
xem xét rất linh hoạt trong từng điều kiện cụ thể,
tùy theo quan niệm và mối quan hệ so sánh về
dân số của mỗi quốc gia. Song, nội dung được quan
niệm như đã nói trên về cơ bản là tương đối thống
nhất không chỉ ở nước ta mà trong cả giới nghiên
cứu dân tộc học trên thế giới.
Dân tộc thiểu số thường được nhận biết thông
qua những đặc trưng chủ yếu sau đây:
- Có chung một phương thức sinh hoạt kinh tế.
1. Minority Rights: International Standards and Guidance
for Implementation (HR/PUB/10/3).
12
Đây là đặc trưng quan trọng nhất của dân tộc (tộc
người). Các mối quan hệ kinh tế là cơ sở liên kết các
bộ phận, các thành viên của dân tộc, tạo nên nền
tảng vững chắc của cộng đồng dân tộc.
- Có thể cư trú tập trung trên một vùng lãnh
thổ của một quốc gia, hoặc cư trú đan xen với nhiều
dân tộc anh em. Vận mệnh của mỗi tộc người là
một phần rất quan trọng gắn với việc xác lập và
bảo vệ lãnh thổ đất nước.
- Có ngôn ngữ riêng và có thể có chữ viết riêng
(bên cạnh ngôn ngữ, chữ viết chung của quốc gia),
có quyền sử dụng trong giao tiếp dân sự và trong
lĩnh vực pháp lý.
- Có nét tâm lý riêng (tâm lý tộc người), mang
bản sắc văn hóa tộc người.
Câu hỏi 2: Thế nào là quyền của người dân
tộc thiểu số? Quyền của người dân tộc thiểu
số có những tính chất cơ bản gì?
Trả lời:
Dựa trên quan điểm về thuật ngữ “dân tộc thiểu
số” như đã đề cập ở phần trên, có thể hiểu, “người
dân tộc thiểu số” trước hết thuộc nhóm người thiểu
số, là cá thể trong một nhóm/một tộc người dân tộc
thiểu số. Họ cùng tộc người của mình sống trên
một quốc gia hoặc địa phương nhất định, có những
đặc điểm đồng nhất về chủng tộc, tín ngưỡng, ngôn
ngữ và truyền thống, có sự giúp đỡ lẫn nhau và có
quan điểm thống nhất trong việc bảo lưu những
13
yếu tố truyền thống, duy trì tôn giáo, tín ngưỡng và
hướng dẫn, giáo dục trẻ em trong cộng đồng theo
tinh thần và truyền thống của chủng tộc họ1. Theo
các công ước quốc tế, người dân tộc thiểu số được
hưởng những quyền của con người và những quyền
của nhóm người thiểu số. Trong mỗi quốc gia, họ
có quyền có quốc tịch và có quyền được xác định
dân tộc theo quy định pháp luật của quốc gia mà
họ sống.
Quyền của người dân tộc thiểu số được quốc
tế chính thức ghi nhận trong Tuyên ngôn quốc tế
về nhân quyền của Liên hợp quốc (UDHR) năm
1948: Mọi người sinh ra đều được hưởng tất cả các
quyền và tự do, không có bất kỳ sự phân biệt đối
xử nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ,
tôn giáo, nguồn gốc dân tộc hoặc xã hội (Điều 2);
và Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính
trị (ICCPR) năm 1966: Tại những nước có nhiều
nhóm dân tộc thiểu số, tôn giáo và ngôn ngữ cùng
chung sống, thì những cá nhân thuộc các dân tộc,
tôn giáo, ngôn ngữ và các nhóm thiểu số đó, cùng
với những thành viên khác của cộng đồng mình,
không thể bị tước bỏ quyền được thụ hưởng nền
1. Xem thêm: Lê Xuân Trình (Khoa Luật - Đại học Quốc
gia Hà Nội): Quyền của người dân tộc thiểu số theo quy định
của luật pháp quốc tế và Việt Nam (Luận văn Thạc sĩ Luật
học, Hà Nội, 2015), http://repository.law.vnu.edu.vn/.
14
văn hóa riêng, quyền được thể hiện và thực hành
tôn giáo riêng hoặc quyền được sử dụng tiếng nói
riêng của họ (Điều 27). Như vậy, dưới góc độ pháp
lý, “quyền của người dân tộc thiểu số” trước hết là
những quyền cơ bản của con người được ghi nhận
và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa
thuận pháp lý quốc tế.
Thuật ngữ “quyền con người” hay “nhân quyền”
là một phạm trù đa diện, phức tạp, với nhiều góc
tiếp cận, tương ứng là nhiều định nghĩa, cách hiểu
khác nhau. Theo Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc,
quyền con người là những bảo đảm pháp lý phổ
quát có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm
chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc làm tổn
hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do
cơ bản của con người1.
Từ góc độ lý luận và pháp luật, quyền con người
là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có của con
người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc
gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế2. Đây là những
chuẩn mực được cộng đồng quốc tế thừa nhận và
tuân thủ, chứa đựng những giá trị nhân văn cao
1. OHCHR, Freequently Asked Questions on a Human
Rights-based Approach to Development Cooperation, New
York and Geneva, 2006, tr.1.
2. Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội: Giáo trình Lý
luận và pháp luật về quyền con người, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.38.
15
quý của toàn nhân loại, kết tinh từ tinh hoa văn
hóa của tất cả các dân tộc trên thế giới; là tiếng nói
chung, mục tiêu chung và phương tiện chung của
toàn nhân loại để bảo vệ và thúc đẩy nhân phẩm và
hạnh phúc của mọi người. Quyền con người là vốn
có cho tất cả các thành viên trong gia đình nhân
loại. Do vậy, quyền con người là quyền phổ quát và
không thể tách rời của cá nhân con người; không thể
tước đoạt các quyền này khỏi con người. Chỉ có thể
hạn chế việc thực thi một số quyền con người trong
những tình huống nhất định.
Như vậy, tiếp cận ở góc độ nào và ở cấp độ nào
thì quyền con người cũng được xác định như là
những chuẩn mực được cộng đồng quốc tế và quốc
gia thừa nhận, tuân thủ.
Đối với quyền của dân tộc thiểu số, chủ thể
hưởng thụ quyền là các dân tộc thiểu số trong một
quốc gia. Mỗi quốc gia có trách nhiệm bảo đảm cho
dân tộc thiểu số trong quốc gia của mình được hưởng
thụ quyền dựa trên điều kiện đặc thù của đất nước.
Người dân tộc thiểu số có đầy đủ các quyền về dân
sự, chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa như mọi người
và mọi công dân trong quốc gia của họ, hoàn toàn
bình đẳng và không có sự phân biệt đối xử.
Thuộc quyền con người, quyền của người dân
tộc thiểu số có các tính chất cơ bản, như: tính phổ
biến, tính không thể tước bỏ, tính không thể phân
chia, tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau.
16
Trong các văn kiện quốc tế về nhân quyền nói
chung ở cấp độ toàn cầu và khu vực, có nhiều văn
kiện ghi nhận một cách trực tiếp hoặc gián tiếp
quyền của người dân tộc thiểu số. Ở cấp độ toàn
cầu, trong khuôn khổ Liên hợp quốc, phải kể đến
các văn kiện:
- Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền của Liên
hợp quốc năm 1948.
- Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức
phân biệt chủng tộc năm 1965.
- Công ước quốc tế về các quyền dân sự và
chính trị năm 1966.
- Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội
và văn hóa năm 1966.
- Tuyên bố về quyền của những người thuộc các
nhóm thiểu số về dân tộc, chủng tộc, tôn giáo và
ngôn ngữ năm 1992.
Câu hỏi 3: Các vấn đề có tính nguyên tắc
trong việc ghi nhận và bảo đảm quyền của
người dân tộc thiểu số được quy định thế nào?
Trả lời:
Vấn đề có tính nguyên tắc trong việc ghi nhận
và bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số, đó là:
- Bình đẳng, không phân biệt đối xử: Có thể
thấy rằng tất cả các văn kiện quốc tế quan trọng về
nhân quyền, đặc biệt là tại các văn kiện về quyền
của nhóm người dễ bị tổn thương và người dân tộc
17
thiểu số đều có quy định trực tiếp về nguyên tắc
bình đẳng, không phân biệt đối xử như là cơ sở tiên
quyết bảo đảm quyền con người nói chung, quyền
của người dân tộc thiểu số nói riêng được ghi nhận
và bảo đảm thực hiện trên thực tế.
- Vai trò tích cực của các quốc gia: Có thể thấy
rằng, trong việc thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền,
đặc biệt là đối với người dân tộc thiểu số, bên cạnh
cơ chế quốc tế và khu vực, các quốc gia có vai trò
quyết định. Tuy lựa chọn các mô hình tương đối
khác nhau, nhưng các quốc gia thường có cơ quan
chuyên trách bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền.
Câu hỏi 4: Trong các điều ước quốc tế,
những quyền cơ bản nào của người dân tộc
thiểu số được ghi nhận và bảo vệ?
Trả lời:
Phù hợp với tính phổ quát của quyền con
người, trong các văn kiện quan trọng nhất của
Liên hợp quốc, người dân tộc thiểu số trước hết
được hưởng tất cả các quyền con người được cộng
đồng quốc tế ghi nhận trên cơ sở bình đẳng, không
có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào. Họ được bảo
đảm tất cả các quyền về dân sự, chính trị, kinh tế,
xã hội, văn hóa.
Xuất phát từ những đặc điểm vốn có cũng như
thực trạng trong việc bảo đảm quyền, luật pháp
18
quốc tế nhấn mạnh những nhóm quyền cơ bản của
người dân tộc thiểu số cần được thúc đẩy và bảo vệ
trong phạm vi toàn cầu. Đây là những nhóm quyền
cơ bản liên quan chặt chẽ đến người dân tộc thiểu
số, là tiền đề quan trọng để bảo đảm các quyền
khác của họ, đó là:
- Quyền có quốc tịch, được xác định dân tộc:
Việc thúc đẩy và bảo vệ quyền của người dân tộc
thiểu số luôn gắn liền với một quốc gia có chủ
quyền và vai trò quan trọng thuộc về các quốc gia.
Do vậy, trước hết họ cần có quốc tịch và được công
nhận là dân tộc thiểu số. Quyền có quốc tịch, được
xác định dân tộc là tiền đề quan trọng để bảo đảm
mọi quyền khác của người dân tộc thiểu số.
- Quyền tham gia quản lý đất nước: Quyền
tham gia quản lý đất nước được ghi nhận lần đầu
trong Điều 21 Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền
năm 1948 của Liên hợp quốc. Theo đó, mọi người
đều có quyền tham gia quản lý đất nước mình, một
cách trực tiếp hoặc thông qua các đại diện mà họ
được tự do lựa chọn... (khoản 1).
Rõ ràng, thực hiện việc bầu cử, ứng cử, tham
gia quản lý, giám sát hoạt động của cơ quan nhà
nước là cách trực tiếp có hiệu quả nhất để người
dân tộc thiểu số thực hiện các quyền chính trị của
mình qua thiết chế các cơ quan nhà nước. Bình
đẳng về chính trị là cơ sở và là điều kiện bảo đảm
19
cơ hội bình đẳng phát triển mọi mặt đời sống xã hội
cho người dân tộc thiểu số.
- Quyền đối với văn hóa, phong tục tập quán,
ngôn ngữ: Có thể thấy rằng đây là nhóm quyền đặc
trưng của người dân tộc thiểu số cần được bảo vệ,
nhóm quyền này được ghi nhận một cách chuyên
biệt trực tiếp tại Điều 27 Công ước quốc tế về quyền
dân sự và chính trị năm 1966 và tại Tuyên bố về
quyền của những người thuộc các nhóm thiểu số về
dân tộc, chủng tộc, tôn giáo và ngôn ngữ năm 1992
của Liên hợp quốc (Điều 1, Điều 2, Điều 4).
Văn hóa, phong tục tập quán, ngôn ngữ là linh
hồn của các dân tộc thiểu số, đây cũng là những
đặc trưng quan trọng khi xác định dân tộc. Chính
vì vậy, quyền của người dân tộc thiểu số đối với văn
hóa, phong tục tập quán, ngôn ngữ của họ cần được
thúc đẩy và bảo vệ ở cấp độ toàn cầu.
- Quyền được giáo dục: Tuyên bố về quyền của
những người thuộc các nhóm thiểu số về dân tộc,
chủng tộc, tôn giáo và ngôn ngữ năm 1992 khẳng
định, quyền được giáo dục là quyền đặc biệt quan
trọng của người thiểu số đòi hỏi các quốc gia phải
quan tâm (Điều 4).
Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân
biệt chủng tộc năm 1965 khẳng định việc đảm bảo
quyền được giáo dục đào tạo (điểm e khoản 5 Điều 5)
như một biện pháp quan trọng trong chính sách
20
của quốc gia thành viên cam kết sẽ cấm và xóa
bỏ sự phân biệt chủng tộc dưới mọi hình thức và
bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật của tất
cả mọi người, không phân biệt chủng tộc, màu da,
nguồn gốc quốc gia hay sắc tộc.
- Quyền được chăm sóc sức khỏe: Nội dung
quyền được chăm sóc sức khỏe được nêu tại Điều 25
Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền năm 1948 của
Liên hợp quốc. Nội dung này, sau đó được cụ thể
hóa ở nhiều văn kiện quốc tế khác, như: Công ước
quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa
năm 1966 (Điều 10, Điều12); Công ước quốc tế
về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống
lại phụ nữ năm 1979 (Điều 11, Điều 12, Điều 14);
Tuyên bố Viên và Chương trình hành động thông
qua tại Hội nghị thế giới về quyền con người lần
thứ hai năm 1993; Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi
hình thức phân biệt chủng tộc năm 1965 (điểm d
khoản 5 Điều 5).
Quyền được chăm sóc sức khỏe, được tiếp cận
các dịch vụ y tế là quyền cơ bản của tất cả mọi
người trên cơ sở bình đẳng, không phân biệt đối xử.
Mọi người có quyền được hưởng tiêu chuẩn chăm
sóc sức khỏe cao nhất có thể được. Đối với người
dân tộc thiểu số và nhóm người “dễ bị tổn thương”
và “dễ bị bỏ quên”, như: phụ nữ, trẻ em, người tàn
tật... khi mà điều kiện được tiếp cận các dịch vụ y tế
còn rất hạn chế thì quyền được chăm sóc sức khỏe
21
có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là quyền không thể
thiếu để thực hiện các quyền khác.
- Quyền được hưởng an sinh xã hội: Cũng như
quyền được giáo dục và quyền được chăm sóc sức
khỏe, quyền được hưởng an sinh xã hội của người dân
tộc thiểu số được ghi nhận tại Công ước quốc tế về
xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc năm 1965
(điểm d khoản 5 Điều 5) như một biện pháp quan
trọng trong chính sách của quốc gia thành viên
cam kết sẽ cấm và xóa bỏ sự phân biệt chủng tộc
dưới mọi hình thức và bảo đảm quyền bình đẳng
trước pháp luật của tất cả mọi người, không phân
biệt chủng tộc, màu da, nguồn gốc quốc gia hay
sắc tộc.
- Quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng hoặc tôn
giáo: Quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng hoặc tôn
giáo của người dân tộc thiểu số được ghi nhận tại
Điều 27 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và
chính trị năm 1966; Điều 2 Tuyên bố về quyền của
những người thuộc các nhóm thiểu số về dân tộc,
chủng tộc, tôn giáo và ngôn ngữ năm 1992; điểm g
khoản 4 Điều 5 Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi
hình thức phân biệt chủng tộc năm 1965.
- Quyền lập hội, tự do hội họp: Công ước quốc
tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc
năm 1965 ghi nhận: “quyền tự do hội họp và lập
hội một cách hòa bình” của người dân tộc thiểu số
22
tại điểm i khoản 4 Điều 5. Tiếp đó, Tuyên bố về
quyền của những người thuộc các nhóm thiểu số
về dân tộc, chủng tộc, tôn giáo và ngôn ngữ năm
1992 ghi: Những người thuộc các nhóm thiểu số
có quyền thành lập và duy trì các hội riêng của họ
(khoản 4 Điều 2).
- Quyền tự do đi lại, cư trú: Tại Điều 5 Công ước
quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng
tộc năm 1965, quy định người dân tộc thiểu số có
quyền tự do đi lại và cư trú trong phạm vi lãnh thổ
quốc gia (điểm a khoản 4); quyền được xuất cảnh
khỏi bất cứ quốc gia nào, kể cả nước mình, và quay
trở lại nước mình (điểm b khoản 4).
II. DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ QUYỀN
CỦA NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM
Câu hỏi 5: Dân tộc thiểu số ở Việt Nam có
những đặc điểm gì?
Trả lời:
Ở Việt Nam, thuật ngữ “dân tộc thiểu số” được
sử dụng trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật
cũng như trong công tác nghiên cứu, học tập và
trong hoạt động thực tiễn. Điều 4 Nghị định số
05/2011/NĐ-CP ngày 14-01-2011 của Chính phủ
về công tác dân tộc (gọi tắt là Nghị định số 05/2011/
NĐ-CP) giải thích thuật ngữ “dân tộc thiểu số” và
những thuật ngữ có liên quan, theo đó:
23
- Dân tộc thiểu số là những dân tộc có số dân ít
hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (khoản 2).
- Dân tộc thiểu số rất ít người là dân tộc có số
dân dưới 10.000 người (khoản 5).
- Dân tộc đa số là dân tộc có số dân chiếm trên
50% tổng dân số của cả nước, theo điều tra dân số
quốc gia (khoản 3).
- Vùng dân tộc thiểu số là địa bàn có đông các
dân tộc thiểu số cùng sinh sống ổn định thành cộng
đồng trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam (khoản 4).
Ở nước ta có 54 dân tộc cùng chung sống,
trong đó dân tộc Kinh là dân tộc đa số, 53 dân tộc
khác là dân tộc thiểu số. Các dân tộc thiểu số Việt
Nam sinh sống chủ yếu ở vùng miền núi (chiếm
3/4 diện tích đất tự nhiên của cả nước), đây là
những địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng về
chính trị, kinh tế, văn hóa, an ninh, quốc phòng,
môi trường sinh thái của đất nước. Có thể khái
quát đặc điểm chung của các dân tộc thiểu số ở
Việt Nam như sau:
Một là, các dân tộc thiểu số ở Việt Nam có quy
mô dân số và trình độ phát triển kinh tế, xã hội
không đồng đều, với sự chênh lệch khá lớn về điều
kiện sống, mức sống giữa các dân tộc và giữa các
vùng địa lý khác nhau.
24
Theo Điều tra về thực trạng kinh tế - xã hội 53
dân tộc thiểu số ở Việt Nam năm 2015 của Tổng cục
Thống kê, 53 dân tộc thiểu số ở nước ta có số dân
là 13,38 triệu người, chiếm 14,58% dân số cả nước.
Trong các dân tộc thiểu số, có những dân tộc có số
dân trên một triệu người, như: Tày, Thái, Mường,
Khmer, Nùng, Hmông; và có những dân tộc chỉ có
số dân dưới 1.000 người, như: Si La, Pu Péo, Rơ
Măm, Brâu, Ơ Đu, Ngái.
Kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn
chậm phát triển, tình trạng du canh, du cư, di
dân tự do vẫn diễn biến phức tạp. Kết cấu hạ tầng
(điện, đường, trường, trạm, công trình dịch vụ công
cộng) ở vùng sâu, vùng xa vẫn còn khó khăn; trình
độ phát triển kinh tế, xã hội không đồng đều, điều
kiện sống và mức sống giữa các dân tộc còn chênh
lệch. Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước Việt Nam
luôn quan tâm, thực hiện đường lối phát triển bình
đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ lẫn nhau giữa
các dân tộc.
Hai là, các dân tộc thiểu số ở Việt Nam cư trú
xen kẽ với nhau, địa bàn cư trú tập trung ở vùng
núi và biên giới - nơi có vị trí chiến lược quan trọng
về chính trị, kinh tế, an ninh, quốc phòng, môi
trường sinh thái của đất nước.
Trong quá trình lịch sử hình thành và phát
triển của dân tộc Việt Nam, các đợt di cư kéo dài
25
hàng thiên niên kỷ đã làm cho bản đồ cư trú của
các dân tộc thiểu số ở Việt Nam có sự tập trung ở
một số vùng nhưng mỗi dân tộc không cư trú thành
những khu vực riêng biệt mà xen kẽ với các dân
tộc khác trong phạm vi của tỉnh, huyện, xã, bản.
Trong mỗi vùng và mỗi địa bàn có những dân tộc là
người gốc địa phương từ lâu đời và có những người
thuộc các dân tộc khác chuyển đến cư trú với tính
xen kẽ ngày càng mạnh mẽ; không có tỉnh, huyện
nào chỉ có một dân tộc cư trú.
Hình thái cư trú xen kẽ giữa các dân tộc ở Việt
Nam là biểu hiện của sự cộng cư đoàn kết trên
quan điểm “nước Việt Nam là một, dân tộc Việt
Nam là một”. Điều này thúc đẩy sự hòa hợp, tin
cậy, gắn bó và giúp đỡ lẫn nhau, tăng cường hợp tác
và xích lại gần nhau hơn trong lao động sáng tạo;
nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, sinh hoạt
văn hóa; ngày càng tiến tới xóa bỏ cách biệt giữa
các dân tộc và các vùng dân cư. Đây là cơ sở giải
quyết mối quan hệ giữa các dân tộc, phòng ngừa
xảy ra mâu thuẫn, tranh chấp lợi ích, xung đột văn
hóa, giữ vững sự đoàn kết, thống nhất, không để
các thế lực thù địch lợi dụng phá hoại, gây mất ổn
định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội của
đất nước.
Các dân tộc thiểu số cư trú dọc biên giới phía
Bắc, Tây và Tây Nam - nơi có nhiều cửa ngõ thông
26
thương giữa nước ta với các nước trong khu vực và
thế giới. Đây cũng là những địa bàn có tiềm năng
lớn về khoáng sản (than, sắt, đồng, chì, kẽm, vàng,
bạc, đá quý), năng lượng thủy điện, đất rừng và môi
trường sinh thái của cả nước. Miền núi cũng là nơi
có nhiều dòng sông chảy về đồng bằng, hằng năm
cung cấp hàng tỷ mét khối nước cho các nhà máy
thủy điện và hàng tỷ mét khối phù sa cho vùng đồng
bằng của Việt Nam. Các vùng đất phì nhiêu ở miền
núi đã và đang phát triển việc trồng cây công nghiệp
dài ngày, như: cà phê, tiêu, chè, cao su... và chăn
nuôi gia súc; các nguồn thực phẩm sẵn có trong tự
nhiên và tre, gỗ được cung cấp cho cả nước.
Từ xa xưa đến nay, do khu vực đồng bào dân
tộc thiểu số sinh sống có địa hình hiểm trở, đồng
bào các dân tộc lại sẵn có lòng yêu nước nên vùng
dân tộc thiểu số luôn là căn cứ địa vững chắc của
các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm của
dân tộc ta. Trong công cuộc đổi mới đất nước, vùng
dân tộc thiểu số tiếp tục đóng vai trò đặc biệt quan
trọng trong thực hiện chiến lược phát triển kinh tế,
xã hội; đảm bảo an ninh, quốc phòng, bảo vệ vững
chắc chủ quyền lãnh thổ Việt Nam.
Ba là, nhiều dân tộc thiểu số có tín ngưỡng, tôn
giáo đan xen, đa dạng.
Trong bối cảnh trình độ phát triển kinh tế, xã
hội chưa cao, hầu hết các dân tộc thiểu số còn lưu
27
giữ và chịu sự chi phối khá rõ nét của nhiều loại
hình tín ngưỡng dân gian. Nhiều dân tộc thiểu
số có tín ngưỡng, tôn giáo đan xen, đa dạng. Đến
nay đa số đồng bào dân tộc thiểu số vẫn theo tín
ngưỡng truyền thống, thờ cúng tổ tiên, thờ đa thần,
các hình thái tôn giáo sơ khai. Trong đó nhiều tín
ngưỡng có tác dụng tích cực, thể hiện ước nguyện
tốt đẹp về cuộc sống con người, củng cố tình đoàn
kết, đồng tâm hiệp lực giữa các thành viên trong
cộng đồng. Nhưng một số tín ngưỡng dân gian cũng
là môi trường cho mê tín dị đoan và hủ tục tồn tại
và phát triển.
Bốn là, đồng bào các dân tộc thiểu số có ý thức
tộc người sâu sắc.
Nhìn chung, đồng bào các dân tộc thiểu số nước
ta có ý thức tộc người sâu sắc, thấy rõ vị trí, đặc
trưng của dân tộc mình và mối quan hệ chung với
các tộc người khác ở cả trong và ngoài biên giới
quốc gia. Từ đó đã tăng cường tính cố kết, hòa hợp
dân tộc, cũng như tinh thần yêu nước, lòng tự hào
của cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
Năm là, mỗi dân tộc đều có bản sắc văn hóa
riêng, độc đáo, góp phần làm nên sự phong phú, đa
dạng của nền văn hóa Việt Nam.
Các dân tộc thiểu số ở Việt Nam đều có bản
sắc văn hóa riêng, độc đáo, góp phần tạo nên sự
phong phú và đa dạng của nền văn hóa Việt Nam
28
thống nhất. Bên cạnh tiếng Việt là ngôn ngữ quốc
gia, được dùng làm phương tiện giao tiếp chung
cho tất cả các dân tộc thì hầu hết các dân tộc thiểu
số ở Việt Nam đều có ngôn ngữ riêng, thuộc 8 nhóm
ngôn ngữ khác nhau, gồm: Nhóm ngôn ngữ Môn Khmer, nhóm ngôn ngữ Việt - Mường, nhóm ngôn
ngữ Tày - Thái, nhóm ngôn ngữ Ka - đai, nhóm
ngôn ngữ Hmông - Dao, nhóm ngôn ngữ Malayô Pôlinêdi, nhóm ngôn ngữ Tạng - Miến, nhóm ngôn
ngữ Hán. Nhà nước Việt Nam tạo mọi điều kiện để
duy trì, phát triển ngôn ngữ, chữ viết, bản sắc văn
hóa của các dân tộc. Tổ chức xã hội truyền thống ở
mỗi dân tộc có những sắc thái riêng; mỗi thôn, bản,
buôn, phum, sóc thường là nơi cư trú theo dòng họ
huyết thống hoặc do hôn nhân hợp thành. Cách
thức sinh hoạt, phong tục tập quán ở mỗi dân tộc
cũng có sự khác nhau.
Sáu là, các dân tộc ở Việt Nam có truyền
thống đoàn kết, gắn bó lâu đời trong chinh phục
thiên nhiên, đấu tranh chống giặc ngoại xâm, bảo
vệ Tổ quốc.
Trong quá trình phát triển, mặc dù nguồn gốc
lịch sử, văn hóa, phong tục tập quán có những điểm
khác nhau, song các dân tộc ở Việt Nam đã luôn
đoàn kết, đồng cam cộng khổ, tương thân tương ái,
cùng nhau chinh phục thiên nhiên, kiên cường đấu
tranh để chiến thắng nhiều kẻ thù xâm lược. Ngày
29
nay, trên dọc tuyến biên giới từ Bắc - Trung - Nam,
đồng bào các dân tộc thiểu số tiếp tục đảm trách
vai trò là người giữ gìn biên cương, lãnh thổ của Tổ
quốc. Bằng lao động sáng tạo và ý chí đấu tranh
bền bỉ, kiên cường, đồng bào các dân tộc thiểu số đã
xây đắp nên một nền văn hóa kết tinh sức mạnh,
tinh hoa và in đậm dấu ấn bản sắc dân tộc, chứng
minh sức sống mãnh liệt và trường tồn của cộng
đồng dân tộc thiểu số ở Việt Nam.
Câu hỏi 6: Quan điểm của Đảng và Nhà nước
ta như thế nào về quyền của dân tộc thiểu số?
Trả lời:
Quán triệt những quan điểm cơ bản của Chủ
nghĩa Mác - Lênin về vấn đề dân tộc, Đảng ta và
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra những nguyên tắc
và định hướng chiến lược về chính sách dân tộc ở
Việt Nam, đó là đoàn kết, bình đẳng, tương trợ giữa
các dân tộc. Có thể khẳng định, chính sách dân tộc
của Đảng luôn được quán triệt và triển khai thực
hiện nhất quán trong mọi thời kỳ. Tuy nhiên, trong
mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể, chính sách dân tộc
của Đảng luôn được bổ sung, hoàn thiện đáp ứng
yêu cầu thực tiễn và sự phát triển của đất nước.
Từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV đến Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng, chính
sách dân tộc đã được Đảng ta đề ra trên cơ sở các
30
vấn đề cốt lõi, đó là: Vị trí của vấn đề dân tộc trong
toàn bộ sự nghiệp cách mạng; các nguyên tắc cơ
bản trong chí...
 





